Chuyển đến nội dung chính

Chữa trị Sarcom Ewing xương trẻ em lưu ý gì?

Phương pháp phẫu thuật có thể được thực hiện để cắt bỏ khối u ung thư xương sarcom ewing xương ở trẻ em mà không gây ra những tổn hại nhiều cho sức khỏe của trẻ. Tuy nhiên, nếu khối u phát triển ở một xương chính của tay hoặc chân thì điều cần thiết chính là cắt bỏ toàn bộ xương (phẫu thuật cắt cụt chi) hoặc những phần xương bị ảnh hưởng. 


Hóa trị: là phương pháp sử dụng các loại thuốc chống ung thư, gây độc cho tế bào, để phá hủy tế bào ung thư. Đây là phương pháp điều trị rất quan trọng đối với trẻ em bị ung thư xương và nó có thể cải thiện đáng kể hiệu quả điều trị sau phẫu thuật.

Hóa trị thường được sử dụng trước khi phẫu thuật và có thể làm co nhỏ các khối u đủ để bác sĩ thực hiện phẫu thuật. Sau đó, hóa trị sẽ được áp dụng sau phẫu thuật để phá hủy các tế bào ung thư còn sót lại, đồng thời ngăn chặn khả năng ung thư lan ra ngoài xương. Phương pháp này còn được gọi là điều trị bổ trợ.

Lúc này, xương bị cắt bỏ sẽ được thay thế bằng một số loại chi giả. Còn nếu chỉ một phần xương bị ung thư được cắt bỏ thì gọi là phẫu thuật chi tối thiểu. Cắt cụt chi đôi khi là việc không thể tránh khỏi nếu tế bào ung thư xương đã ảnh hưởng tới các mạch máu và dây thần kinh xung quanh.

Sau khi cắt cụt chi, người ta sẽ lắp một chi giả cho trẻ và chúng được điều chỉnh đều đặn trong quá trình phát triển của trẻ. Các chi giả có thể làm việc khá tốt và thích hợp với những hoạt động bình thường, thậm chí là chơi thể thao ở mức độ nhẹ.

Xạ trị là phương pháp sử dụng tia năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư và hạn chế nguy cơ tổn hại đến tế bào lành. Sarcom Ewing xương đáp ứng rất tốt với phương pháp xạ trị nên nó thường được sử dụng sau hóa trị và trước hoặc sau phẫu thuật. Trường hợp phương pháp phẫu thuật không thể áp dụng do khối u ở tủy xương thì xạ trị sẽ được chỉ định cho phẫu thuật.


Tác dụng phụ và những lưu ý sau điều trị


Việc điều trị ung thư xương có thể gây ra các tác dụng phụ và các bác sĩ thường bàn bạc điều này với cha mẹ của trẻ bị bệnh trước khi bắt đầu điều trị. Các tác dụng phụ sẽ xảy ra tùy thuộc vào phương pháp điều trị, vị trí có khối u xương cũng như thời gian điều trị. Bởi trong khi điều trị thì những tế bào bình thường cũng có thể tổn hại và gây ra những triệu chứng khó chịu như buồn nôn và nôn, mệt mỏi, tiêu chảy, rụng tóc, dễ nhiễm khuẩn và xuất hiện các vết thâm tím, chảy máu,…

Hầu hết các tác dụng phụ của điều trị sarcom Ewing xương ở trẻ em đều là tạm thời và có nhiều cách để giảm nhẹ các tác dụng phụ này, đồng thời hỗ trợ trẻ cảm thấy thoải mái hơn. Một số trẻ thì gặp phải những tác dụng phụ muộn hơn, ví dụ như giảm khả năng phát triển xương bình thường, thay đỏi hoạt động của tim, phổi, mắc bệnh vô sinh hoặc tăng nguy cơ mắc các loại ung thư khác sau này,…

Hầu hết trẻ em bị sarcom Ewing xương đều được chữa khỏi và không để lại nhiều di chứng nghiêm trọng nên các bậc phụ huynh không nên quá lo lắng mà cần chăm sóc sức khỏe của trẻ tốt hơn và trao đổi thêm với bác sĩ để biết xem mình cần làm gì tốt nhất cho trẻ.

Hy vọng những chia sẻ quí giá từ các bác sĩ chuyên khoa có thể giúp ích được nhiều cho đọc giả. Chúc các bạn luôn mạnh khỏe và thành công.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Viêm bao gân vùng mỏm trâm quay cổ tay là gì?

Viêm bao gân vùng mỏm trâm quay cổ tay là một loại bệnh lý viêm bao gân cơ dạng dài và duỗi ngắn ngón tay cái do De Quervain, đây cũng chính là tên nhà phẫu thuật học người Thụy Sỹ phát hiện lần đầu vào năm 1895. Bệnh viêm bao gân vùng mỏm xương thường gặp ở đối tượng là phụ nữ độ tuổi 30 – 50 tuổi. Trong các hoạt động hàng ngày, cơ dạng dài và cơ duỗi ngắn ngón cái trượt khá dễ dàng trong đường hầm và được bao bọc bởi các hoạt dịch gân được làm trơn. Khi bao hoạt dịch bị viêm sẽ dẫn tới các hoạt động của đường hầm bị hạn chế gọi là hội chứng De Quervain. Viêm bao gân vùng mỏm trâm quay có những triệu chứng ban đầu khá đơn giản, tuy vậy nếu không được kịp thời điều trị bệnh sẽ có những triệu chứng nguy hiểm hơn, ảnh hưởng tới cuộc sống cũng như sinh hoạt của người bệnh. Bệnh nhân có hiện tượng đau vùng mỏm trâm quay, khi vận động ngón tay cái liên tục và đau nhất khi về đêm. Viêm bao gân vùng mỏm trâm quay có thể lan ra ngón cái sau đó đau lên vùng cẳng tay. Sưng nề vùng mỏm...

Trật khớp vai sẽ có thể bị biến chứng gì?

Có khoảng 1% trường hợp động mạch nách bị tắc do thương tổn lớp áo giữa và lớp áo trong. Có khi bị rách thành bên do đứt gốc một nhánh bên hoặc có khi chỉ bị co thắt. Sau khi nắn trật khớp vai cần kiểm tra bằng cách bắt mạch, cần thiết thì chụp động mạch để xử trí tùy theo thương tổn. Gặp khoảng 15% số trường hợp. Nhất là liệt dây thần kinh mũ. Biểu hiện bằng mất cảm giác vùng cơ delta, và sau khi nắn xong thì không dạng được cánh tay. Nên sau khi nắn trật khớp phải kiểm tra khả năng co cơ delta và cảm giác vùng mỏm vai. tác hại của bệnh thoát vị đĩa đệm  http://coxuongkhoppcc.com/tac-hai-cua-benh-thoat-vi-dia-dem.html Có trường hợp liệt hẳn đám rối thần kinh cánh tay. Liệt thần kinh thường phục hồi sau 1 - 8 tuần. Thương tổn mạch máu Gãy xương kèm theo Gãy rời mấu động to gặp khoảng 30% số trường hợp. Thường sau khi nắn trật khớp thì mảnh gãy sẽ về lại vị trí giải phẫu tốt. Vỡ bờ ổ chảo Biến dạng chỏm xương cánh tay kiểu dạng Hill- Sachs. Gẫy cổ xương cánh tay...

Ðau cổ mạn tính là gì ?

Đau cổ mạn tính có thể tiến triển từ từ (thường diễn biến hàng năm) và có xu hướng xảy ra trong hoặc sau những hoạt động hoặc tư thế nhất định thì thường do nguyên nhân hẹp lỗ liên hợp cột sống cổ. Thường sự chèn ép xảy ra ở một rễ thần kinh ở một bên của cột sống cổ Đau lan xuống tay và có thể xuống bàn tay hoặc các ngón tay thì thường do nguyên nhân thoát vị đĩa đệm hoặc hẹp lỗ liên hợp gây ép vào rễ thần kinh ở cột sống cổ. Kiểu đau này có thể đi kèm với tê hoặc đau nhói ở tay hoặc ở bàn tay. Những triệu chứng này có thể xuất hiện đột ngột và tiến triển qua thời gian. Hướng điều trị cho thoát vị đĩa đệm cột sống cổ phụ thuộc vào đau kéo dài bao lâu, mức độ đau và mức độ rễ thần kinh hoặc tủy sống bị ảnh hưởng. Đa phần, các triệu chứng này là tạm thời và có thể điều trị thành công bởi các phương pháp điều trị bảo tồn (ví dụ: thuốc, vật lý trị liệu và bấm huyệt). Nếu đau không đáp ứng trong 6-12 tuần điều trị bảo tồn, thì phẫu thuật được khuyên dùng. Loại hẹp ống s...