Chuyển đến nội dung chính

Hội chứng chùm đuôi ngựa là gì?

Hội chứng chùm đuôi ngựa là một cấp cứu ngoại thần kinh vô cùng phức tạp. Vùng đuôi ngựa được tạo nên bởi tất cả các gốc rễ thần kinh ở khu vực cuối chóp cùng tủy sống, bao gồm các rễ khu vực thắt lưng 2 đến rễ cùng 5 và các rễ cụt. 

Các triệu chứng của hội chứng đuôi ngựa xuất hiện rất nhanh cũng như phối hợp với nhau và gây nên các triệu chứng ở nhiều mức độ: Đau thắt lưng dưới, chi bên, rối loạn cảm giác

Bệnh đau dây thần kinh chùm đuôi ngựa do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, một số nguyên nhân sau đây được coi là nguyên nhân chính gây bệnh:

Đây được đánh giá là nguyên nhân chính gây nên các hiện tượng chèn ép của đuôi ngựa. Thông thường bệnh có xu hướng xuất hiện ở những người có độ tuổi từ 35 – 55 tuổi và nam giới mắc nhiều hơn nữ giới. Các triệu chứng báo trước không hề có, bệnh đau dây thần kinh chùm đuôi ngựa đến một cách đột ngột, đôi khi không đau đớn, có lúc lại đau vô cùng dữ dội.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm thắt lưng có thể do người bệnh gặp phải các tai nạn, chấn thương hay bê vác nặng sai tư thế… đôi khi các bệnh lý như gai đôi cột sống, gù vẹo cột sống cũng khiến cho hội chứng chù đuôi ngựa xuất hiện dễ dàng.

Có khoảng 15% người bệnh mắc bệnh do nguyên nhân này. Thông thường, kích thước sau của ống sống thắt lưng là 13 đến khoảng 15mm, tuy nhiên nếu kích thước trên nhỏ hơn 13mm thì bị hẹp ống sống. Những người cảm thấy chân mình có hiện tượng đi khập khiễng sau khi đi bộ được vài trăm mét kèm theo đó là các hiện tượng đau thì rất dễ mắc bệnh. Nguyên nhân bao gồm các hiện tượng hẹp ống sống bẩm sinh, bệnh có thể nặng lên do thoái hóa thoát vị đĩa đệm…

U được sinh ra từ khu vực tận cùng của tủy sống và tổn thương có xu hướng tăng dần, càng để lâu thì khối u có xu hướng chiếm toàn bộ túi cùng thắt lưng, việc phẫu thuật cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu như người bệnh để tình trạng này kéo dài.


Bệnh hội chứng chùm đuôi ngựa sẽ có những biểu hiện chủ yếu sau:


Người bệnh cảm thấy đau hoặc thấy dị cảm hai bên chân, đôi khi cảm thấy vô cùng khó chịu ở vùng hậu môn hay đáy chậu. Các cơn đau có hiện tượng đau tăng khi người bệnh ho hặc thay đổi tư thế một cách quá đột ngột. Các hiện tượng mất cảm giác có thể gặp ở toàn bộ một hoặc là cả hai chân của người bệnh, các cảm giác đại tiểu tiện nhiều khi cũng biến mất.

Vận động ở chân( có thể là một chân hoặc cả hai chân) có hiện tượng suy giảm, không chỉ vậy người bệnh sẽ cảm thấy các phản xạ tại khu vực gót chân, gối giảm dần. Các rối loạn cơ trong cũng xuất hiện, người bệnh tự nhiên rơi vào hiện tượng bí tiểu, bí đại tiện hay liệt dương… Những biến chứng sẽ ngày càng nguy hiểm nếu như người bệnh không điều trị kịp thời.

Trên thực tế có hai dạng hội chứng đuôi ngựa là hội chứng đuôi ngựa hoàn toàn và hội chứng chùm đuôi ngựa không hoàn toàn. Với những hội chứng khác nhau thì biểu hiện bệnh có những khác biệt cơ bản. Người bệnh cũng co thể dưa vào đặc điểm này mà biết mình mắc phải trường hợp nào.

Như đã nói, tùy vào mức độ bệnh mà người bệnh sử dụng các phương pháp điều trị phù hợp. Nếu như bệnh ở mức độ nhẹ có thể sử dụng các loại thuốc giảm đau thông thường như paracetamol hay chống viêm giảm đau không corticoid, sử dụng các loại thuốc giãn vân cơ trong trường hợp co cứng các cơ, bổ xung thêm vitamin… Các loại thuốc này vừa có tác dụng giảm đau nhanh, bồi bổ sức khỏe khiến người bệnh nhanh chóng được phục hồi.

Nếu hội chứng đuôi ngựa có những tiến triển xấu người bệnh có thể tiến hành phẫu thuật hay sử dụng kỹ thuật giảm áp đĩa đệm bằng laser…

Bên cạnh đó, các bài tập vật lý trị liệu cũng mang lại những hiệu qủa vô cùng tích cực trong quá trình điều trị giúp người bệnh được thư giãn. Massage, châm cứu, bấm huyệt… đều có tác dụng rất tốt cho người bệnh hội chứng chùm đuôi ngựa.

Hy vọng những chia sẽ trên của bác sĩ sẽ giúp bạn có những kiến thức bổ ích. Chúc bạn luôn vui vẻ và mạnh khỏe trong cuộc sống.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chữa trị Sarcom Ewing xương trẻ em lưu ý gì?

Phương pháp phẫu thuật có thể được thực hiện để cắt bỏ khối u ung thư xương sarcom ewing xương ở trẻ em mà không gây ra những tổn hại nhiều cho sức khỏe của trẻ. Tuy nhiên, nếu khối u phát triển ở một xương chính của tay hoặc chân thì điều cần thiết chính là cắt bỏ toàn bộ xương (phẫu thuật cắt cụt chi) hoặc những phần xương bị ảnh hưởng.  Hóa trị: là phương pháp sử dụng các loại thuốc chống ung thư, gây độc cho tế bào, để phá hủy tế bào ung thư. Đây là phương pháp điều trị rất quan trọng đối với trẻ em bị ung thư xương và nó có thể cải thiện đáng kể hiệu quả điều trị sau phẫu thuật. Hóa trị thường được sử dụng trước khi phẫu thuật và có thể làm co nhỏ các khối u đủ để bác sĩ thực hiện phẫu thuật. Sau đó, hóa trị sẽ được áp dụng sau phẫu thuật để phá hủy các tế bào ung thư còn sót lại, đồng thời ngăn chặn khả năng ung thư lan ra ngoài xương. Phương pháp này còn được gọi là điều trị bổ trợ. Lúc này, xương bị cắt bỏ sẽ được thay thế bằng một số loại chi giả. Còn nếu chỉ một ph...

Teo cơ tủy sống ở trẻ em gồm các loại nào?

Trẻ mắc bệnh teo cơ tủy sống loại I thường kém kiểm soát đầu và không có khả năng thực hiện các kỹ năng cơ thể vận động. Những trẻ nhỏ hơn thì có các biểu hiện khó thở, bú kém, khó nuốt, thường xuyên hay quấy khóc. Trẻ em bị bệnh này không thể ngồi hoặc đứng mà rất cần được sự giúp đỡ. Có thể các trẻ sẽ phải cần tới các thiết bị hỗ trợ đi lại như xe đẩy hoặc là xe lăn. Teo cơ tủy sống ở trẻ vào loại I là cấp độ bệnh nhẹ nhất có thể xảy ra. Loại bệnh teo cơ tủy sống này thường được biết tới như là bệnh Werdnig-Hoffmann. Việc chẩn đoán các trẻ em bị loại này thường được thực hiện trước 6 tháng tuổi, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và diễn biến của bệnh. Việc nuốt thức ăn của trẻ trở nên khó khăn khiến việc cho ăn cũng vì thế mà cũng sẽ khó khăn hơn. Dần dần các trẻ sẽ mất khả năng nuốt, và cần thiết để lắp một ống truyền dinh dưỡng để giúp bổ sung dinh dưỡng cũng như quản lý thức ăn lỏng vào trong dạ dày của trẻ. Ngoài ra, trẻ con khi bị mắc chứng teo cơ tủy sống loại I đã bắt đ...

Trị teo cơ ra sao?

Vì khối lượng cơ chính là chìa khóa quy định sức mạnh của cơ nên khi cơ bị teo, nhóm cơ đó sẽ trở nên yếu đi. Nếu chú ý, bạn sẽ thấy vùng cơ bị teo đi nhỏ hẳn lại so với bên đối diện. Một số loại teo cơ có thể hồi phục, một số khác thì sẽ gây teo cơ vĩnh viễn hoặc thậm chí tiến triển nặng hơn. Điều trị bệnh teo cơ: Chẩn đoán Các bác sĩ chủ yếu bằng khám lâm sàng và làm các xét nghiệm cận lâm sàng để tìm nguyên nhân: Cận lâm sàng CT Scan. MRI: các xét nghiệm hình ảnh học sẽ cho thấy khối lượng cơ giảm. Xét nghiệm máu: Khi cơ phân hủy nhiều sẽ làm tăng các chất như Ure, Kali, CK, LDH. Xét nghiệm nước tiểu: Khi cơ phân hủy khiến nước tiểu có màu đỏ sẫm, hoặc nâu. Các xét nghiệm như Myoglobin, Phân tích nước tiểu 10 thông số sẽ được chỉ định. Điện cơ: đặc biệt nhạy với các trường hợp teo cơ do thần kinh cơ. Kết quả những trường hợp này thường là tổn thương thần kinh mạn tính, giúp nhận ra các dây thần kinh cơ đã chết. Chẩn đoán phân biệt - Viêm cơ, tiêu cơ vân: Tìn...